Phạm Duy là nhạc sĩ, nhạc công, ca sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc lớn của Việt Nam. Ông được nhiều người đánh giá là nhạc sĩ lớn nhất của nền tân nhạc Việt Nam với lượng sáng tác đồ sộ cũng như đa dạng về thể loại, trong đó có rất nhiều ca khúc trở nên kinh điển và quen thuộc với người Việt. Nhạc của ông thường sử dụng những yếu tố nền tảng của âm nhạc cổ truyền Việt Nam kết hợp với những kỹ thuật, cấu trúc của nhạc hàn lâm Tây phương, tạo nên một phong cách riêng với nhiều tác phẩm lớn có tính đột phá, giàu ảnh hưởng đối với các nhạc sĩ thuộc nhiều thế hệ.[1]
Tiểu sử[]
Thời niên thiếu[]
Phạm Duy Cẩn sinh ngày 5 tháng 10 năm 1921 tại Nhà hộ sinh số 40 Rue Takou (nay là Phố Hàng Cót, quận Hoàn Kiếm) tại Hà Nội trong một gia đình văn nghiệp. Ít lâu sau khi ông ra đời, gia đình ông dọn từ phố Mã Mây (Rue des Pavillons Noirs - phố Quân Cờ Đen) xuống phố Hàng Dầu (Rue Felloneau) tại Hà Nội. Về gia thế, ông nội ông là Phạm Duy Đạt, vốn là một vị quan Chánh tổng dưới triều Nguyễn; cha ông là Phạm Duy Tốn, thường được coi như là nhà văn xã hội đầu tiên của nền Văn học Mới đầu thế kỷ XX; anh của ông là Phạm Duy Khiêm, sau này trở thành giáo sư – thạc sĩ, cựu Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Pháp, văn sĩ Pháp văn, tác giả những cuốn Légendes des terres sereines, Nam et Sylvie, De Hanoi à Lacourtine. Nhà văn Phạm Duy Tốn qua đời vì bệnh lao khi Phạm Duy Cẩn mới lên 3.
Lúc nhỏ ông là cậu bé hiếu động, tính tình "văng mạng, bất cần đời", tuy vậy lại thích diễn kịch, làm trò, và mê nhạc. Ông biết dùng guitar, mandolin để chơi nhạc Tây Âu, bên cạnh đó còn tiếp thu các nhạc điệu dân ca miền Bắc, hay những bài ca Huế như Nam Ai, Nam Bình, Tứ Đại Cảnh… Ngoài nền văn hóa mang tính nhân bản của Pháp, ông còn được tiếp xúc với văn hóa cổ truyền, qua các tác phẩm của cha Phạm Duy Tốn, hay cuốn "Tục ngữ phong dao" của người anh họ Nguyễn Văn Ngọc.
Về học hành chính quy, Phạm Duy chỉ có bốn năm tiểu học và một năm trung học, nhưng những bài học trong sách Quốc văn giáo khoa thư, Luân lý giáo khoa thư đã in đậm trong tâm hồn ông trước khi bước vào xã hội, hình thành cho ông quan niệm về "đức độ của con người Việt Nam" mà ông nhấn mạnh là "con người ở nông thôn", chứ không phải ở thành thị. Ông học vỡ lòng tại trường Hàng Thùng, học Tiểu học tại trường Hàng Vôi (Trường Amiral Courbet, nay là trường Nguyễn Du). Tính ông nghịch ngợm, học không giỏi, thường hay bị phạt. Đến năm 13 tuổi (1934), vào được lớp nhất, ông mới học giỏi dần, trở thành một trong những học sinh ưu tú của lớp, nhất là môn đọc thơ tiếng Pháp.
Năm 1936, sau khi thi trượt vào Trường Bưởi, ông vào học trường Trung học tư thục Thăng Long. Thầy dạy ông tại trường có Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Tuyên, Phan Anh, Khuất Duy Tiến... Trong các bạn cùng lớp có Quang Dũng. Về học lực ông đứng thứ nhì trong lớp. Một năm học trung học giúp ông hấp thụ thêm những cái hay cái đẹp của nền văn chương Pháp, của Victor Hugo, André Chenier, Alfred de Vigny, Bernadin de Saint Pierre,...
Năm 1937, anh của ông là Phạm Duy Khiêm không cho ông học tại trường Thăng Long nữa mà bắt ông học nghề, vào Trường Bách Nghệ (Trường Kỹ nghệ Thực hành Hà Nội). Trường có hai ngành là gỗ và sắt, ông học ngành sắt (nguội, tiện, rèn). Học chưa hết một niên khóa thì năm 1938 ông bị đuổi học vì đánh nhau, vi phạm kỷ luật.
Hoạt động nghệ thuật[]
Từ sau khi nghỉ học, ông xin làm việc ở Hiệu sửa radio tại phố Hàng Gai, Hà Nội. Cuối năm 1939 thì đi Móng Cái làm việc ở Nhà Máy điện, làm thợ rèn rồi coi lò than, sau 5 tháng bị bệnh nám phổi phải vào nhà thương chữa bệnh. Cuối tháng 5 năm 1940, ông về Hà Nội định đầu quân làm lính thợ sang Pháp nhưng vào ngày 22 tháng tiếp theo, quân đội Đức Quốc xã đã chiếm Paris cùng một nửa phía Bắc nước Pháp và Pháp ký hiệp định đầu hàng Đức Quốc xã nên ý định đó đã không thành.
Khoảng tháng 6 năm 1940, nghe lời bè bạn, ông theo học dự thính hội họa tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học với sự hướng dẫn của nhà giáo Tô Ngọc Vân, cùng lớp với Bùi Xuân Phái, Phan Kế An, Võ Lăng... Tuy nhiên, ông sớm nhận ra mình không có niềm đam mê thật sự đối với hội họa. Mùa thu năm 1941 ông nghỉ học, về Hưng Yên sống với mẹ, chị tại nhà anh trai Phạm Duy Nhượng, đang làm thầy giáo tại đây. Một người anh họ xa nên là Ninh, làm nghề luật sự tại Tòa án, đã đưa ông vào làm thư ký. Sau một thời gian ông bỏ việc về làm con nuôi của Tuần phủ Lê Đình Trân, lo việc kèm học cho 2 em nhỏ. Sau ông Trân được thăng làm Tổng đốc, đi trấn nhậm tỉnh Kiến An, Phạm Duy cũng đi theo.
Năm 1942, ông khởi nghiệp sáng tác nhạc với tác phẩm hoàn chỉnh đầu tay là Cô Hái Mơ, phổ từ thơ Nguyễn Bính, trong thời kỳ phong trào Tân nhạc bắt đầu nở rộ, đồng thời ông cũng làm quen với nhạc sĩ Văn Cao và có một vài lần góp ý/hỗ trợ Văn Cao viết những ca khúc mà sau này chúng đều là những tình khúc nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của mình. Sang năm sau, ông đi trông coi đồn điền của gia đình Tổng đốc Lê Đình Trân tại Yên Thế, Bắc Giang. Một thời gian sau, ông theo lời mẹ về Hà Nội để tham gia Gánh hát Đức Huy đang thành lập. Gánh hát biểu diễn ra mắt tại Hải Phòng rồi Nam tiến, có lúc biểu diễn ở Campuchia. Việc sống ở nhiều nơi, trải qua nhiều hoàn cảnh sống khác nhau cũng là những chất liệu quan trọng giúp ích cho sự nghiệp âm nhạc của Phạm Duy sau này. Cùng với giai đoạn lang thang vô định này, ông cũng dần nhận ra niềm đam mê âm nhạc của mình và tự mày mò học nhạc cổ điển, rồi tập sáng tác. Trong cuộc đời của mình, ông chưa từng học chính quy một trường lớp âm nhạc nào.
Năm 1944, ông thành ca sĩ hát tân nhạc trong gánh hát cải lương Đức Huy – Charlot Miều (Ngô Nhật Huy). Trong suốt thời kỳ hát rong, Phạm Duy được gặp gỡ nhiều tên tuổi lớn như thi sĩ Lưu Trọng Lư, nhạc sĩ Lê Thương, Lê Xuân Ái, Văn Đông...
Sau năm 1945[]
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Chiều ngày 10 tháng 3, khi gánh hát Đức Huy đang lưu diễn ở Cà Mau, ông cùng hai người trong gánh hát bị mật thám Pháp bắt vào tù do treo cờ Nhật, nhưng đến tối thì được binh lính Nhật trả tự do. Giữa năm 1945, Phạm Duy từ giã gánh hát Đức Huy đến ở nhờ nhà một người bạn tại khu Dakao (Tân Định), Sài Gòn. Ông sinh sống, đi hát tại Sài Gòn rồi gia nhập Thanh niên Tiền phong, làm công tác văn nghệ rồi vào đội Võ trang Tuyên truyền. Tháng 10 năm 1945, sau khi quân Pháp làm chủ Sài Gòn, ông rời Tân Định ra Bắc, về Hà Nội.
Đầu năm 1946, ông tham gia một lớp huấn luyện quân sự cấp tốc rồi sau đó được đưa vào miền Nam tham gia kháng chiến. Ông được đưa vào chiến khu Bà Rịa - Vũng Tàu làm công tác thông tin, liên lạc và tiếp vận. Đầu mùa thu năm 1946, ông bị thương nhẹ ở cánh tay và được phép về Bắc. Ông ở Huế một thời gian rồi về Hà Nội khoảng cuối tháng 10 cùng năm.
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Toàn quốc kháng chiến. Ngày 20 tháng 12, ông ra Hà Đông, làm việc tại Đài Phát thanh bí mật; sau đó tham gia Đoàn Văn nghệ Giải phóng tại Sơn Tây rồi đi phục vụ văn nghệ qua Phúc Yên, Vĩnh Yên, Việt Trì, Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai. Ông ở lại Lào Cai, cùng với Văn Cao, Ngọc Bích, làm việc tại phòng trà Quán Biên Thùy (một cơ sở tình báo). Sau đó ít lâu ông cùng Ngọc Bích đến Bắc Cạn (qua Yên Bái, Tuyên Quang, Thái Nguyên) khoảng tháng 10 năm 1947, rồi quay lại Thái Nguyên; lúc này hai ông làm việc cho Cục Chính trị, là cán bộ văn nghệ với cấp bậc đại úy. Cuối năm này hai ông từ Thái Nguyên qua Bắc Giang, sau đó tham gia đoàn văn nghệ do Hoàng Cầm thành lập, lưu diễn tại Bắc Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn năm 1948. Sau khi không còn là văn nghệ sĩ của Cục Chính trị thì 2 người đi Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Sơn Tây về Hà Đông.
Sau khoảng 2 tháng, nghe lời Trần Văn Giàu, cả hai vào Thanh Hóa để vào Nam. Nhưng tại Thanh Hóa, Phạm Duy tham gia Đoàn Văn nghệ Quân đội Liên khu IV, trực thuộc Trung đoàn 304 (có sự tham gia của Thái Hằng). Sau khi đính hôn với Thái Hằng, Phạm Duy cùng một số nghệ sĩ đi phục vụ thực tế tại Nghệ An, Hà Tĩnh rồi Bình - Trị - Thiên (đi đường rừng, đồng bằng và quay về bằng đường biển).
Về lại Thanh Hóa năm 1949, Phạm Duy cưới Thái Hằng, người chủ trì hôn lễ là tướng Nguyễn Sơn. Sau đó cả 2 vợ chồng ra Việt Bắc (đi qua Hòa Bình, Vĩnh Yên, Thái Nguyên, Bắc Kạn) năm 1950, tham dự Đại hội Văn hóa Toàn quốc. Sau đó Phạm Duy và vợ từ bỏ, thoát ly khỏi các đoàn văn nghệ quân đội và quay về lại Thanh Hóa.
Ngày 1 tháng 5 năm 1951 đại gia đình Phạm Duy - Thái Hằng chia làm 3 nhóm từ Thanh Hóa "dinh tê" về Hà Nội. Ngày 9 tháng 6 năm 1951 thì họ di cư bằng máy bay vào Nam, sinh sống tại Sài Gòn. Cuối năm này thì Phạm Duy bị một số nhạc sĩ ghen tị tố cáo là có quan hệ với Việt Minh, ông cùng với Lê Thương và Trần Văn Trạch bị bắt giam ở khám Catinat, Sài Gòn trong 120 ngày. Năm 1953, ông qua Pháp học dự thính hai năm về âm nhạc, tại đây, ông chơi thân với Trần Văn Khê, người sau này trở thành giáo sư dân nhạc nổi tiếng.
Định cư ở miền Nam Việt Nam sau năm 1954[]
Hai năm sau, ông về Việt Nam thì đất nước đã chia cắt sau hiệp định Genève. Từ đó, ông ở miền Nam tiếp tục sáng tác và biểu diễn trong ban hợp ca Thăng Long cùng với Thái Thanh, Hoài Nam, Hoài Bắc, Hoài Trung tại phòng trà Đêm màu hồng. Thời gian này ông cũng có những hoạt động trong ngành sân khấu và thông tin đại chúng, như viết nhạc kịch, viết nhạc cho phim và cộng tác với đài Phát thanh.
Năm 1956, xảy ra vụ ngoại tình giữa ông và ca sĩ Khánh Ngọc, là vợ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương và đồng thời cũng là em vợ của Phạm Duy , vụ việc trở thành một đề tài gây xôn xao trên các báo chí Sài Gòn và cả Hà Nội. Đây là "mối tình cấm", "cả gan" luôn làm ông "buồn rầu khi phải nhắc lại" vì đã làm buồn lòng người vợ, người em vợ, và vì biết rằng những đổ vỡ kia không thể hàn gắn được". Sau vụ tai tiếng trên, ông không còn hợp tác với ban hợp ca Thăng Long nữa. Trong lúc tinh thần suy sụp, ông đi vào mối tình đặc biệt với Alice, con gái của Helen – tình nhân cũ của ông. Đây là mối tình "giữa hai tâm hồn", "không đụng chạm thể xác", được xây dựng trong 10 năm và chính là nguồn cảm hứng lớn để ông viết nên nhiều tác phẩm nhạc tình giá trị, như Chỉ Chừng Đó Thôi, Thương Tình Ca,....
Gia đình ông chuyển đến căn nhà nhỏ ở cư xá Chu Mạnh Trinh ở ngã tư Phú Nhuận, nơi có nhiều gia đình nghệ sĩ tới ở, như gia đình Nguyễn Mạnh Côn, Năm Châu, Duyên Anh, Hồ Anh, Anh Ngọc, Trần Ngọc, Hoàng Nguyên, Minh Trang, Kim Tước. Không còn hợp tác với ban Thăng Long, Phạm Duy vào làm việc ở Trung tâm Điện ảnh, và ở một thời điểm nào đó, Phạm Duy đã đề nghị nhạc sĩ trẻ tuổi Lam Phương tham gia đóng phim, và chính Lam Phương đã chấp nhận đóng khoảng 5 - 6 bộ phim (Chân Trời Mới, Niềm Tin Mới,...) với trung tâm. Thời gian này ông hay lui tới quán Chùa (La Pagode), gặp gỡ Vũ Khắc Khoan, Cung Trầm Tưởng, Võ Đức Diên, Mặc Thu, Tạ Tỵ, Lê Ngộ Châu... Ông được Võ Đức Diên và các bạn bè giúp đỡ đi một chuyến từ Sài Gòn ra vĩ tuyến 17 để hoàn thành nốt trường ca Con Đường Cái Quan.
Thập niên 1960, sau khi Việt Nam Cộng hòa được nhiều quốc gia thân Mỹ công nhận, cùng với các bạn nghệ sĩ khác, Phạm Duy được cử đi Philippines, Nhật Bản, Thái Lan để giới thiệu văn nghệ Việt Nam. Và với ít nhiều kinh nghiệm bang giao, ông thường có mặt trong những buổi đón tiếp các phái đoàn văn nghệ nước ngoài, như đoàn vũ trống của Hàn Quốc, đoàn Moral Rearmement của Mỹ... Nhờ đó, ông có dịp trao đổi tài liệu âm nhạc với các văn nghệ sĩ nước ngoài.
Năm 1965, ông tham gia phong trào Du ca với Nguyễn Đức Quang, Giang Châu, Ngô Mạnh Thu,... đi nhiều nơi tại miền Nam Việt Nam để phổ biến các ca khúc nói lên thân phận của tuổi trẻ thời đó. Một năm sau, ông được văn phòng Giáo dục Văn hóa của Bộ Ngoại giao Mỹ mời sang nước này, tại đây ông được mời tham quan các đài truyền hình, nhạc hội, đến ở trong gia đình nghệ sĩ The Beers Family, Petersburg. Ông được đài Channel 13 với Steve Addiss và Bill Crofut, mời tham gia chương trình dân ca của Pete Seeger, nhạc sĩ phản chiến số một của Hoa Kỳ. Bốn năm sau ông lại qua Hoa Kỳ lần nữa để làm cố vấn cho Bộ thông tin Hoa Kỳ để "giải độc dư luận Mỹ". Tại đây ông mới biết thêm thông tin về vụ Thảm sát Mỹ Lai, và phản ứng của ông là ca khúc ''Kể chuyện đi xa''. Ông cũng hát nhiều ca khúc phản chiến tại các show truyền hình, sân khấu ở Mỹ.
Cuối thập niên này, ban nhạc gia đình "The Dreamers" của các con ông ra đời, ông cùng ban này đi biểu diễn tại các phòng trà, nhà hàng Sài Gòn. Đây cũng là thời gian băng Cassette thịnh hành, giúp ông có được nhiều khoản thu nhập từ tiền tác quyền, trở nên giàu có.
Từ năm 1970 đến năm 1975, với nhiều diễn biến lớn diễn ra tại Việt Nam, đời sống cũng như công việc của ông cũng có nhiều bất ổn. Ngày 17 tháng 4 năm 1975, đài phát thanh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (tức quân giải phóng của chính quyền Bắc Việt) cho đăng tuyên bố tử hình vắng mặt Phạm Duy và hai người khác vì thái độ chống cộng. Những ngày cuối tháng 4 năm 1975, trước việc quân Giải phóng miền Nam vào Sài Gòn, Phạm Duy quyết định đưa gia đình di tản ra nước ngoài. Ngày 28 tháng 4, ông và vợ, hai con gái lên máy bay và di cư sang Hoa Kỳ.
Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975[]
Trải qua nhiều khó khăn của hành trình di tản, ông và gia đình cũng ổn định, cư ngụ tại Thành phố Midway, Quận Cam, California. Thời kỳ này ông vẫn tiếp tục sáng tác, biểu diễn và tổ chức cũng như tham gia các đêm nhạc về mình, đặc biệt là sau khi đã học được cách sử dụng máy điện toán kết nối với một bàn phím piano điện tử để sáng tác nhạc. Năm 1990, ông bắt đầu viết hồi ký, khi hoàn tất chia làm 4 quyển. Năm 1993, ở tuổi 72, nhạc sĩ xuất hiện trong chương trình Paris By Night 19 - Tác Phẩm Và Con Người Phạm Duy do trung tâm Thúy Nga thu hình tại Pháp cùng với em vợ Thái Thanh cùng con gái đầu của bà là Ý Lan, ba người con đã trở thành ca sĩ gồm Duy Quang, Thái Hiền và Thái Thảo cùng con rể là nam ca sĩ Tuấn Ngọc. Hai năm sau, ông lại xuất hiện trong chương trình Paris By Night số 30, cũng là một chương trình mà trung tâm Thúy Nga thực hiện để vinh danh ông.
Năm 1990, ông bắt đầu viết hồi ký, khi hoàn tất chia làm 4 cuốn. Chín năm sau, vợ ông là bà Thái Hằng qua đời, sự kiện này khiến ông bị cao huyết áp phải đi nằm bệnh viện một thời gian dài. Cũng trong năm đó, nhạc sĩ Phạm Duy xuất hiện trong chương trình Paris By Night số 48, mạn đàm một số tác phẩm của ông cùng với Thái Thanh. Sau năm này, ông quyết định thực hiện những chuyến về thăm quê hương sau 25 năm xa cách. Ngày 14 tháng 8 năm 1999, phu nhân của ông, danh ca Thái Hằng qua đời ở tuổi 72.[2]
Năm 2004, Phạm Duy xuất hiện trở lại trong chương trình Paris By Night 73 - Song Ca Đặc Biệt và được chủ nhiệm đài Little Saigon Radio là ông Vũ Quang Ninh trao tặng kỷ niệm chương.
Trở về Việt Nam định cư[]
Sau nhiều lần về thăm quê hương,[3]. Phạm Duy chính thức trở về định cư tại Việt Nam ngày 17 tháng 5 năm 2005, với sự cho phép của chính phủ Việt Nam[4]. Sự kiện này được truyền thông trong nước lẫn hải ngoại quan tâm đặc biệt[4][5][6]. Báo chí Việt Nam nhận xét đó là "nhịp cầu nối quê hương với người Việt xa xứ"[4], "niềm vui thống nhất lòng người, còn Phạm Duy nói cuộc trở về này là "lá rụng về cội"[7][8]. Bên cạnh đó, sự kiện này còn gặp phải sự phản đối của một số người Việt hải ngoại, vì họ cho rằng ông đã "về phe cộng sản".
Ông Nguyễn Đắc Xuân từng chất vấn Phạm Duy về những quyết định của ông trong quá khứ. Hồi năm 1996, hàng đêm ông Xuân liên hệ qua điện thoại thì có lần ông đã hỏi là "Anh Phạm Duy có khi nào anh nghĩ rằng anh có tội với đất nước không?". Phạm Duy trả lời[9]:
- Có chứ, mình cũng có chứ nhưng do hoàn cảnh. Mình biết chứ và bây giờ mình cũng phải làm cái gì đó để bù đắp lại cái tội đó của mình. Đứng trên thế của người Kháng chiến mình là có tội.
Phạm Duy cảm thấy khủng khiếp khi nhìn vào thực tế của những nhạc sĩ hải ngoại khác như Phạm Đình Chương, Lam Phương, Hoàng Thi Thơ: Cho đến khi họ chết người ta vẫn còn đầy hận thù, do đó ông thấy cần phải về Việt Nam. Phạm Duy cũng chia sẻ rằng nhạc sĩ ở Việt Nam "sướng hơn ở Mỹ"[9].
Công ty cổ phần Văn hoá Phương Nam và Hãng phim Phương Nam cũng nhân dịp này, đã đứng ra mua bản quyền toàn bộ nhạc phẩm của Phạm Duy trong vòng 10 năm với giá hơn 400 nghìn đôla [10].
Năm 2006, Phạm Duy cùng hãng phim Phương Nam tổ chức đêm nhạc mang tên "Ngày trở về" tại nhà hát Hoà Bình. Ông được mời làm người dẫn chương trình dẫn dắt và kể chuyện suốt liveshow; đêm nhạc tổ chức quy mô hoành tráng, được công chúng đón nhận nhiệt liệt. Một số nhân vật đã phản đối sự đón nhận này, trong đó có nhà báo Nguyễn Lưu với bài "Không thể tung hô" đăng trên báo Đầu tư. Tuy nhiên bài viết của Nguyễn Lưu vấp phải sự phản đối của nhiều độc giả[11], bị cho là mắc nhiều "sai lầm ngây ngô", và những "lỗ hổng kiến thức chết người"[12]. Hãng phim Phương Nam cũng phản hồi bài viết này bằng một bài báo, trong đó nội dung phần lớn để cải chính những kiến thức sai lầm trong bài của Nguyễn Lưu.[13]. Sau đó báo Đầu tư đã thông báo chấm dứt tranh luận về vấn đề này.
Nhiều đêm nhạc Phạm Duy khác với quy mô lớn tiếp tục diễn ra: Con đường tình ta đi (ngày 12 tháng 11 năm 2009), Mơ giấc mộng dài (tháng 7 năm 2010) tại Nhà hát Hòa Bình tổ chức bởi Hãng phim Phương Nam, những đêm giới thiệu Minh họa Kiều tại miền Bắc. Tháng 3 năm 2009, đêm "Ngày trở về" đã tổ chức thành công ở nhà hát lớn Hà Nội, nơi ông sinh ra, "Xong buổi diễn, tôi mới thực sự là người về hưu" - ông phát biểu [14].
Ngày 18 tháng 8 năm 2011 ban liên lạc họ Phạm tại Sài Gòn và công ty TNHH họ Phạm Phương Nam tổ chức đêm nhạc Họ Phạm với chủ đề: "Mọi trái tim - một tấm lòng" cũng mời ông và nhạc sĩ Phạm Tuyên tới dự.
Qua đời[]
Ngày 27 tháng 1 năm 2013, sau một thời gian nhập viện với nhiều biến chứng từ những căn bệnh mà ông đã mắc phải từ thập kỷ trước, Phạm Duy trút hơi thở cuối cùng một tháng sau cái chết của con cả ông là ca sĩ Duy Quang tại Hoa Kỳ, ba tháng sau khi bước sang sinh nhật lần thứ 91 của ông. Tang lễ của ông được tổ chức tại nhà riêng và ông được an táng tại Công viên Nghĩa trang Bình Dương vào ngày 3 tháng 2 cùng năm.
Chương trình Paris By Night số 108 thu hình gần hai tháng sau sự ra đi của Phạm Duy có giới thiệu một số ca khúc của ông hoặc do chính ông phổ thơ hoặc viết lời Việt, bao gồm Chỉ Chừng Đó Thôi, Tình Cầm, Khi Xưa Ta Bé, Nha Trang Ngày Về và Em Đẹp Nhất Đêm Nay nhằm tưởng nhớ đến những công trình vĩ đại nhất của cuộc đời nghệ thuật của cố nhạc sĩ.
Ngày 8 tháng 1 năm 2014, di hài của Thái Hằng đã được đưa về quê hương và an táng vĩnh viễn bên cạnh chồng và con trai tại "Khu vườn Phạm Duy" ở hoa viên nghĩa trang Bình Dương.[2]
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, đại diện gia đình nhạc sĩ Phạm Duy là Phạm Duy Đức đã chính thức ký kết hợp đồng với Eric Henry và nhà xuất bản Đại học Cornell về việc cung cấp các bản dịch của bộ hồi ký The Memoirs of Pham Duy, đồng thời công bố bộ sách dự kiến được phát hành vào năm 2025.[15]
Gia đình[]
Ngoài người cha Phạm Duy Tốn và anh trai Phạm Duy Khiêm là những nhà văn có tiếng, ông còn có người anh thứ Phạm Duy Nhượng cũng là nhạc sĩ, tác giả ca khúc Tà Áo Văn Quân. Một người anh họ của ông là học giả Nguyễn Văn Ngọc, tác giả cuốn Tục ngữ phong dao. Học giả Trần Trọng Kim cũng từng nhận ông làm con nuôi.
Đến khi lập gia đình, ngoài vợ ông là ca sĩ Thái Hằng, còn có em vợ là danh ca Thái Thanh, anh em vợ là các nhạc sĩ Phạm Đình Chương (Hoài Bắc), nghệ sĩ Phạm Đình Sỹ, ca sĩ Phạm Đình Viêm (Hoài Trung) của ban hợp ca Thăng Long. Ông có tám người con (Duy Quang, Duy Minh, Duy Hùng, Duy Cường, Thái Hiền, Thái Thảo, Duy Đức, Thái Hạnh) và các con ông được ông hướng dẫn theo nghiệp nhạc, đều có thành công trong lĩnh vực của mình: con trai cả là ca sĩ Duy Quang, rồi đến nhạc sĩ hòa âm Duy Cường, con gái là các ca sĩ Thái Hiền, Thái Thảo.
Ngoài ra có thể kể đến con rể của ông là ca sĩ Tuấn Ngọc (chồng của Thái Thảo), là con trai của nhạc sĩ Lữ Liên; vì thế ông và nhạc sĩ Lữ Liên là thông gia. Các cháu vợ của ông như ca sĩ Ý Lan (con gái của Thái Thanh), và Mai Hương (con gái Phạm Đình Sỹ).
Sự nghiệp âm nhạc[]
Xem phân tích về sự nghiệp nghệ thuật của nhạc sĩ Phạm Duy tại đây.
Di sản để lại[]
Nhạc sĩ Phạm Duy đã để lại một kho tàng khổng lồ các tác phẩm âm nhạc từ nhiều thể loại, chủ đề khác nhau, làm nên thế giới quan đa dạng của ông về quê hương, đất nước và con người trong âm nhạc Việt Nam. Khối lượng sáng tác của ông có thể là nhiều hơn bất cứ nhạc sĩ nào cùng thời điểm và sau này, nhiều gấp hơn 3 lần nhạc sĩ nổi tiếng thứ hai tại miền Nam Việt Nam sau ông là Trịnh Công Sơn (Trịnh Công Sơn có khoảng 600 ca khúc cả trước lẫn sau năm 1975) và gấp 4 lần nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ với 500 ca khúc. Ngoài ra, nhạc sĩ cũng có một số sách viết về âm nhạc và cuộc đời của mình.
Những người biểu diễn nhạc Phạm Duy thành công nhất[]
Người được coi là thành công nhất với nhạc Phạm Duy cho đến nay là Thái Thanh. Thái Thanh hát nhạc Phạm Duy từ những ngày đầu ông sáng tác, bà đã biểu diễn và ghi âm hàng trăm bài. Từ những ca khúc cho quê hương như Tình Ca, Nhớ Người Thương Binh, Người Về, Về Miền Trung, Quê Nghèo, Tình Hoài Hương,..., những bài có âm điệu phức tạp như Đường Chiều Lá Rụng, Chiều Về Trên Sông... đến tình ca đôi lứa như Ngày Xưa Hoàng Thị, Nghìn Trùng Xa Cách, Kiếp Nào Có Yêu Nhau, Trả Lại Em Yêu, Đừng Xa Nhau... giọng hát của bà, với phong cách hàn lâm trên chất liệu dân ca, rất phù hợp với loại tân nhạc xây dựng trên hơi thở nhạc dân tộc của Phạm Duy. Nhạc Phạm Duy - giọng Thái Thanh đã là sự kết hợp tiêu biểu nhất của tân nhạc Việt Nam suốt nhiều thập kỷ.
Sau Thái Thanh, phải nói đến ca sĩ Duy Quang, con trai Phạm Duy và cũng là một trong những người trình bày nhiều ca khúc của Phạm Duy nhất. Duy Quang bắt đầu hát từ những ca khúc dành cho sinh viên, phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên như Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ, Thà Như Giọt Mưa, Hai Năm Tình Lận Đận, Em Hiền Như Ma Soeur... Thời gian sau biến cố 1975, ông tiếp tục hát những ca khúc về tình yêu, thân phận, tâm linh, và cả nhạc mang yếu tố chính trị. Đến khi Thái Thanh ngưng hoạt động, Duy Quang là người đã tiếp tục dòng nhạc Phạm Duy với vai trò trụ cột của những đêm nhạc Phạm Duy, và cũng là giọng hát chính của các đĩa hát Ngục Ca, Thiền Ca, Trường ca Minh Hoạ Kiều.
Ngoài hai danh ca trên, còn nhiều ca sĩ thể hiện thành công cũng như gặt hái tên tuổi từ dòng nhạc Phạm Duy:
- Duy Khánh với những bài đậm màu dân ca: Nhớ Người Thương Binh, Bà Mẹ Phù Sa, trường ca Con Đường Cái Quan, Mẹ Việt Nam, Ngày Trở Về,... Ngay cả nghệ danh Duy Khánh cũng xuất phát từ lý do này.
- Anh Ngọc với những bản nhạc tiền chiến, nhạc chiến tranh cũng như tình ca đôi lứa trong các chương trình thu phát trên đài Sài Gòn, đặc biệt ông cũng là người đầu tiên trình bày bản nhạc Tình Ca đến với công chúng.
- Duy Trác với Ngày Đó Chúng Mình, Cây Đàn Bỏ Quên,...
- Khánh Ly với rất nhiều ca khúc Phạm Duy thành công như Xuân Thì, Khối Tình Trương Chi, Còn Gì Nữa Đâu, 54-75, Bên Ni Bên Nớ...
- Lệ Thu thì có Đừng Bỏ Em Một Mình, Thuyền Viễn Xứ, Ngậm Ngùi, Nước Mắt Mùa Thu, Mộ Khúc... gần như đóng đinh với tên tuổi của bà.
- Tuấn Ngọc là giọng hát lớn của giai đoạn sau 1975 đồng thời là con rể của nhạc sĩ, cũng kịp để lại dấu ấn lớn trong dòng nhạc Phạm Duy với Tiễn Em, Hẹn Hò, Kiếp Nào Có Yêu Nhau, Nắng Chiều Rực Rỡ, Tâm Sự Gửi Về Đâu, Chuyện Tình Buồn, Tình Cầm,...
- Julie Quang với Mùa Thu Chết, Yêu Tinh Tình Nữ, Huyền Thoại Trên Một Vùng Biển, Tưởng Như Còn Người Yêu,...
- Elvis Phương với Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà, Kỷ Vật Cho Em, Tâm Sự Gửi Về Đâu, Tình Hờ, Anh Yêu Em Vào Cõi Chết, Con Quỳ Lạy Chúa Trên Trời, Còn Chút Gì Để Nhớ, Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang,...
- Khánh Hà với Nghìn Trùng Xa Cách, Nha Trang Ngày Về, Kiếp Nào Có Yêu Nhau,...
- Thái Hiền thì nổi danh khoảng thập niên 1970 với những bài nhạc Phạm Duy sáng tác cho "tuổi ô mai" trong chương khúc Bé Ca và Nữ Ca, và sau 1975 với rất nhiều bản thu cho những ca khúc Phạm Duy ít người hát.
- Hà Thanh với Hoa Xuân, Người Về.
- Thanh Thúy với Phố Buồn.
- Mai Hương với những bài dân ca mới như Quê Nghèo, Nhớ Người Thương Binh,... và những bài hát nhạc ngoại Phạm Duy viết lời Việt như Chủ Nhật Buồn, Trở Về Mái Nhà Xưa, Chiều Tà, Dạ Khúc, Khúc Hát Thanh Xuân…
- Kim Tước, Quỳnh Giao hát những bài nhạc bán cổ điển được giới thưởng ngoạn đánh giá cao.
- Danh ca Lê Dung trong nước, tuy rằng hoạt động trong giai đoạn nhạc Phạm Duy bị cấm nhưng cũng đã cho ra đời "chui" một vài bản nhạc tình của Phạm Duy như Mộ Khúc, Nghìn Trùng Xa Cách và được đánh giá tốt.
- Gần đây còn có các ca sĩ Ngọc Anh với Giết Người Trong Mộng, Nha Trang Ngày Về, Mùa Thu Chết,... và Bích Liên, Mộng Thủy,... thường hát những ca khúc Phạm Duy ở hải ngoại, đôi song ca Ngọc Hạ và Trần Thái Hoà với Ngày Đó Chúng Mình, Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài, Còn Gì Nữa Đâu, đôi song ca Ngọc Hạ và Thiên Tôn với Phượng Yêu, Vợ Chồng Quê, Chiều Về Trên Sông,...
Sau khi nhạc Phạm Duy được cấp phép tại Việt Nam, thì những ca sĩ trẻ trong nước như Mỹ Linh, Quang Linh, Nguyên Thảo, Quang Dũng, Đức Tuấn,... là những người thường biểu diễn trong những đêm nhạc Phạm Duy cũng như thu nhạc của Phạm Duy.
Xuất hiện trong các chương trình Paris By Night[]
Nhạc sĩ Phạm Duy xuất hiện trong 4 chương trình Paris By Night, và 2 trong số đó là các chương trình vinh danh dòng nhạc của ông.
- Paris By Night 19 - Tác Phẩm Và Con Người Phạm Duy
- Paris By Night 30 - Phạm Duy 2 - Người Tình
- Paris By Night 48 - Hình Ảnh Cuộc Đời (một phần)
- Paris By Night 73 - Song Ca Đặc Biệt - The Best of Duets (một phần)
Những lần các tác phẩm của Phạm Duy xuất hiện trong các chương trình Paris By Night[]
Xem danh sách những lần các tác phẩm của Phạm Duy xuất hiện trong các chương trình Paris By Night (không kể PBN 19 và 30) tại đây.
Thư viện ảnh[]
Thông tin bên lề[]
- Tiếc nuối lớn nhất của Nguyễn Ngọc Ngạn là không thực hiện được lời hứa với nhạc sĩ Phạm Duy thực hiện thêm một chương trình Paris By Night nữa với chủ đề nhạc Phạm Duy (trước đây Phạm Duy cũng từng nói với Nguyễn Ngọc Ngạn rằng nhạc của ông còn rất nhiều bài chưa được công bố và bày tỏ mong muốn được thực hiện tiếp một chương trình Paris By Night nữa với nhạc của mình là chủ đề), vì vào thời điểm mà trung tâm đã thực hiện xong các chương trình Tác giả & Tác phẩm với đại đa số các nhạc sĩ còn sống tại hải ngoại và Việt Nam thì Phạm Duy cũng đã về Việt Nam sống tiếp phần đời còn lại. Ngoài ra nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Phạm Duy, Nguyễn Ngọc Ngạn còn có ý định thực hiện một show ngắn mang tên Phạm Duy - Một Chuyện Tình khiến Marie Tô nảy ra ý tưởng sẽ làm một chương trình Music Box (nếu có thực hiện).[16]
- Mặc dù Phạm Duy chỉ thực sự bắt đầu sáng tác vào thời điểm kháng chiến chống Pháp, một số bài nhạc của ông mang âm hưởng của những ca khúc tiền chiến (những bài hát được sáng tác từ năm 1938 đến năm 1946) vẫn được xếp vào dòng nhạc tiền chiến.[16]
- Trong số ba người con trai của nhà văn Phạm Duy Tốn, tức Phạm Duy Khiêm, Phạm Duy Nhượng và chính nhạc sĩ Phạm Duy, Phạm Duy là người nhỏ nhất và cũng là người sống lâu nhất khi cả hai người anh của ông đều mất trước năm 1975.
- Nhạc sĩ Xuân Tiên và Phạm Duy đều có họ Phạm, cùng sinh năm 1921 (mặc dù Xuân Tiên sinh trước Phạm Duy tới 9 tháng) và đều đến từ miền Bắc Việt Nam. Cả hai đều được công luận cho là những "cây đại thụ" của nền tân nhạc Việt Nam.
- Với 137 nhạc phẩm và gần 200 tiết mục ca nhạc với dòng nhạc của Phạm Duy, ông hiện tại là nhạc sĩ có các tác phẩm của mình được trung tâm Thúy Nga sử dụng nhiều nhất trong lịch sử thu hình các chương trình Paris By Night.
Chú thích[]
- ↑ https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_Duy
- ↑ 2,0 2,1 https://nhacxua.vn/cuoc-doi-va-su-nghiep-cua-danh-ca-thai-hang-mot-than-ho-menh-cua-nhac-si-pham-duy/?fbclid=IwAR2RwPmIY7m-9VCE8I8ElljHLNBQfg8N10ojn9RuqN-yFMrdn8S7vifYJaE
- ↑ Nói về ca khúc và thơ phổ nhạc Bản mẫu:Webarchive- Trang web của Hội Nhạc sĩ Việt Nam
- ↑ 4,0 4,1 4,2 Phạm Duy được phép về Việt Nam sinh sốngBản mẫu:Liên kết hỏng - Tiền phong
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênvnn - ↑ Phạm Duy về đến Việt Nam - BBC tiếng Việt
- ↑ Nhạc sĩ Phạm Duy-Lá rụng về cội, VOV
- ↑ Nhạc sĩ Phạm Duy: Lá có rụng về cội?Bản mẫu:Liên kết hỏng Hồng Thái, 7:21, 29/03/2005, antgct.cand.com.vn
- ↑ 9,0 9,1 Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênsource0 - ↑ Cty Phương Nam khai thác nhạc Phạm Duy trong 10 năm, giá gần nửa triệu đô la - Nguyễn Quang Minh, vietweekly
- ↑ Phản hồi của độc giả - Thanh niên online
- ↑ Phản hồi xung quanh bài viết về nhạc sĩ Phạm Duy Bản mẫu:Webarchive - nguoivienxu.vietnamnet.vn
- ↑ Phản ứng của Phương Nam- Thanh niên online
- ↑ Nhạc sĩ Phạm Duy trở về Hà Nội - bbc
- ↑
- ↑ 16,0 16,1 Livestream có sự góp mặt của Tô Ngọc Thủy và Nguyễn Ngọc Ngạn ngày 13 tháng 5 năm 2022: https://www.youtube.com/watch?v=wQFUphvk2LE








