FANDOM


Đây là danh sách các định dạng sản phẩm được sử dụng bởi trung tâm Thúy Nga, bao gồm đặc tính kỹ thuật và mục đích sử dụng của trung tâm Thúy Nga đối với chúng.

Audio

CD

Đặc tính kỹ thuật

TNCD561-CD

Đĩa CD của album TNCD561 - Nét Đẹp Á Đông. Một đĩa CD được phát hành bởi trung tâm Thúy Nga thường hiển thị các thông tin cơ bản sau: logo hiện hành của trung tâm, mã đĩa "TNCDxxx", tên album và dòng chữ khẳng định bản quyền in ở viền đĩa.

Đĩa CD là một dụng cụ quang học có khả năng lưu trữ thông tin và được sử dụng chủ yếu vào mục đích thu âm và lưu trữ âm thanh đã được mã hóa dưới dạng kỹ thuật số. Đĩa CD làm bằng chất dẻo (nhựa polycarbonate), đường kính 4.75 inch (khoảng 12 cm), mặt trên được dùng để in tên đĩa hoặc artwork của album theo ý muốn của người thiết kế, mặt dưới là mặt ghi, nơi chứa dữ liệu của đĩa. Mặt ghi có diện tích 86.05 cm2, bao gồm một lớp polycarbonate chứa các rãnh siêu nhỏ chạy theo đường xoắn ốc từ trong ra ngoài, một lớp nhôm/vàng phản chiếu lại tia laser và một lớp mài bảo vệ lớp phản chiếu tia laser.

Để sử dụng đĩa CD cần phải có một thiết bị đọc đĩa chuyên biệt gồm động cơ điện mini dùng để xoay đĩa và mắt laser (mắt laser được sử dụng để đọc đĩa CD là tia bán hồng ngoại có bước sóng 780 nm) lắp trên một cartridge chuyển động tịnh tiến theo chiều ngang, thường được gọi là ổ đĩa CD, thường được tìm thấy trên các đầu đĩa CD.

Nguyên tắc hoạt động của ổ đĩa khi có mặt đĩa CD như sau:

  • Trong quá trình ghi âm, sóng âm thanh được chuyển đổi thành các tín hiệu điện tử. Tiếp theo, bộ phận kỹ thuật số sẽ chia các tín hiệu này thành 44,100 phân đoạn/mẫu trong mỗi giây âm thanh (quy trình này được gọi là sampling với tần số 44.1 kHz đối với định dạng CD), và tín hiệu này sẽ được "khắc" lên rãnh xoắn ốc siêu nhỏ trên đĩa theo trình tự từ trong ra ngoài.
  • Khi cho đĩa CD đã chứa dữ liệu vào ổ với mặt ghi tiếp xúc với mắt laser, động cơ điện mini sẽ xoay với tốc độ 500-600 vòng/phút và tia laser sẽ được bật sáng, phản chiếu trên lớp nhôm trong đĩa và quay trở lại mắt đọc, quét qua những rãnh siêu nhỏ chứa thông tin, bắt đầu từ các đoạn ngoài cùng của rãnh, theo thứ tự từ ngoài vào trong. Khi ấy, bộ mã hóa sẽ chuyển các tín hiệu dạng nhị phân (dạng dữ liệu biểu thị bằng số 0 và số 1) thu thập được từ mắt đọc đĩa sang dạng tín hiệu điện tử (một số đầu đĩa sẽ ngừng quay khi việc đọc dữ liệu hoàn tất và màn hình sẽ hiển thị số track và tổng thời lượng các track trong đĩa), và các tín hiệu điện tử sẽ được mạch DAC (Digital to Audio Converter) tái tạo thành dạng âm thanh trở lại một khi quá trình chạy đĩa bắt đầu.

Các đĩa CD thường có thời lượng thu âm tối đa là 74 hoặc 80 phút, tương đương với 650 MB hoặc 700 MB dữ liệu có thể ghi được vào đĩa. Ngoài ra còn có các loại đĩa có thể ghi được tới 90 hoặc 99 phút âm thanh, tương ứng với 800 hoặc 900 MB dữ liệu có thể ghi vào. Tuy nhiên, một số trường hợp sử dụng định dạng MP3 vốn tốn ít dung lượng hơn rất nhiều so với định dạng WAV để lưu trữ một số lượng lớn (trên 50) bài hát hoặc lưu trữ sách nói được sản xuất từ một tập tiểu thuyết nào đó.

Các loại đĩa CD được phân loại theo định dạng:

  • CD-DA (Compact Disc - Digital Audio): Loại đĩa CD chuyên biệt để lưu trữ âm thanh kỹ thuật số và chỉ có thể chứa dữ liệu âm thanh trong phần ghi của đĩa, là thủy tổ của các loại đĩa CD sau này.
  • SACD (Super Audio Compact Disc): Loại đĩa CD có chất lượng âm thanh cao hơn đĩa CD thông thường.
  • CD-Text: Loại đĩa CD mà ngoài chức năng ghi âm ra, còn có chức năng lưu trữ các thông tin dạng văn bản của các track (bao gồm tên, nhạc sĩ, tác giả, thời lượng,...)
  • CD-ROM (Compact Disc - Read-Only Memory): Loại đĩa CD có khả năng chứa được nhiều loại dữ liệu khác nhau, được chế tạo bằng cách dùng một chiếc khuôn ghi sẵn thông tin dữ liệu đã được mã hóa trên đó ép lên rãnh xoắn ốc trên mặt ghi của đĩa nhằm mục đích sản xuất hàng loạt. Đặc tính nổi bật của CD-ROM là chỉ có thể đọc được mà không thể chỉnh sửa hay xóa thông tin chứa trong nó.
  • CD-R (CD-Recordable): Loại đĩa CD tuân theo cơ chế WORM (write once, read many - nghĩa là ghi một lần và đọc nhiều lần). Điều này có nghĩa là, đĩa CD có thể được đọc tùy ý nhưng chỉ có thể ghi được một lần duy nhất, và thích hợp sử dụng nhất đối với các ổ đĩa chỉ có khả năng đọc.
  • CD-RW (CD-Rewritable): Loại đĩa CD có thể được ghi nhiều lần nhưng không thích hợp trên một số ổ đĩa chỉ có chức năng đọc.

Sử dụng bởi trung tâm Thúy Nga

CD là định dạng âm thanh mà trung tâm Thúy Nga sử dụng nhiều nhất để lưu trữ và phát hành âm nhạc và sách nói của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn. Cho đến hiện nay, trung tâm Thúy Nga đã phát hành tổng cộng là 621 album (các albu có mã đĩa là TNCD001, TNCD002,... đến TNCD621) và là đại diện phát hành của 168 album và 92 album sách nói của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, tổng cộng là 881 album đã và đang được bày bán trên trang web thuyngashop.com.

Hầu hết các CD đều có thời lượng nằm trong khoảng từ 40 đến 60 phút và chứa trong đó từ 10-12 track (từ 9 bài trở xuống hoặc 13 bài trở lên là các trường hợp hiếm, và điều này cũng xảy ra tương tự với các album từ 61 hoặc 70 phút trở lên hoặc 40 phút trở xuống, nếu như tổng thời lượng vượt quá 74 phút thì trung tâm sẽ sử dụng đĩa loại 80 phút/700 MB để thu hết toàn bộ các ca khúc). Riêng các album sách nói của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, một album như vậy thường có từ 1 đến 6 CD được đóng gói trong một vỏ, tương ứng với thời lượng từ 1 (hoặc dưới 1) đến 6 giờ đồng hồ của các câu chuyện.

Hầu hết các album mà trung tâm phát hành theo định dạng này đều chỉ có một đĩa trong một vỏ, có một số rất ít trường hợp phát hành hai đĩa trong cùng một album (ví dụ, hai album The Best of Như QuỳnhThe Best of Như Quỳnh 2 là hai album đầu tiên có hai CD trong cùng một vỏ).

LP (đĩa nhựa, đĩa than long-play)

Đĩa nhựa/đĩa than (tiếng Anh: vinyl disc, vinyl record, gramophone, phonograph) là thiết bị lưu trữ âm thanh chuyên biệt, rất phổ biến vào thập niên 50, 60 của thế kỷ XX.

Đặc tính kỹ thuật

Đĩa nhựa được làm bằng poly-vinyl clorua (nhựa PVC). Phân loại theo đường kính, đĩa than gồm ba loại: loại 12 inch (30.48 cm), 10 inch (25.4 cm) và 7 inch (17.78 cm).

Phương thức ghi đĩa nhựa là ghi lên cả hai mặt của đĩa các rãnh với độ dập nổi khác nhau. Để đọc đĩa than cần phải sử dụng máy hát đĩa (tiếng Anh: turntable, có cách gọi khác là mâm đĩa than), và đĩa được đọc từ ngoài vào trong.

Máy hát đĩa thường được trang bị động cơ điện có khả năng quay với các tốc độ: 33.33, 45 hoặc 78 vòng/phút tùy vào loại đĩa được sử dụng và một công tắc chuyên dùng để điều chỉnh tốc độ. Phân loại theo đường kính và tốc độ quay niêm yết trên đĩa, có thể chia đĩa than thành ba loại chính:

  • LP (long play): sử dụng đĩa 12 inch và tốc độ quay chậm với 33.33 vòng/phút. Mỗi mặt đĩa có thể ghi được tối đa 22 phút. Trong trường hợp tín hiệu âm thanh đầu ra thấp, thời lượng tối đa có thể được nâng lên thêm vài phút nữa. Tuy nhiên, có một số trường hợp rất hiếm có mà thời lượng album được kéo dài tới mức vượt quá 25 hoặc 30 phút mỗi mặt, và album đĩa than dài nhất lịch sử có thời lượng lên tới 90 phút.
  • SP (single play - đĩa đơn): sử dụng đĩa 10 inch hoặc 7 inch và tốc độ quay nhanh với 78 vòng/phút. Mỗi mặt đĩa có thể ghi được tối đa 4 phút 30 giây, tương đương với thời lượng trung bình của một track nhạc bình thường.
  • EP (extended play): sử dụng đĩa 10 hoặc 7 inch với tốc độ quay tương đối với 45 vòng/phút hoặc chậm với 33.33 vòng/phút. Mỗi mặt đĩa có thể ghi được tối đa 12 phút (7 phút đối với đĩa 7 inch và tốc độ quay 33.33 vòng/phút.

Một bộ phận quan trọng khác của mâm đĩa than là kim đọc đĩa. Kim đọc đĩa được nối với tay cần, có thể vươn ra tới các đoạn rãnh xoắn ốc trong cùng của đĩa, có khối lượng và trọng lượng vừa phải sao cho kim đọc không gây ra áp lực quá nhiều hoặc quá ít lên đĩa. Kim đọc có nhiệm vụ ghi nhận những thông tin đọc được từ rãnh ghi của đĩa dưới dạng dao động cơ học và chuyển nó thành tín hiệu điện bằng nam châm/cuộn dây động và truyền tín hiệu đó tới phono box hoặc receiver (máy thu tín hiệu). Lúc này, phono box/receiver có nhiệm vụ nhận và khuếch đại tín hiệu đó lên thành tín hiệu âm thanh.

Đĩa than rất dễ bị ảnh hưởng bởi bụi bẩn và những vết trầy, xước vì chúng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng âm thanh đầu ra, hoặc tệ hơn là làm cho chiếc đĩa đó không thể chơi nhạc được nữa, vì vậy cần có những biện pháp làm sạch đĩa định kỳ để tránh những hiện tượng không đáng có.

Sử dụng bởi trung tâm Thúy Nga

Năm 2019, trung tâm Thúy Nga phát hành các album đĩa than theo yêu cầu của khán - thính giả. Trong năm này, 8 album LP đã được phát hành. Mỗi album đều chỉ chứa 8 bài (4 bài ở mỗi mặt) và tổng thời lượng của mỗi đĩa thường dưới 44 phút. Trung tâm không phát hành album đôi (tức album chứa hai đĩa trong cùng một vỏ) đối với định dạng này.

Băng cassette

Đặc tính kỹ thuật

Băng cassette là một trong những định dạng âm thanh chuyên biệt phổ biến vào cuối thập niên 60 và xuyên suốt thập niên 70, 80 của thế kỉ XX.

Df288af84c3d7b87fd747fd4e0e52137

Các album cassette nhạc vàng và nhạc ngoại quốc được thu âm trước và sau năm 1975. Lưu ý rằng album TNCD013 - Nụ Hoa Nhỏ thực hiện bởi nữ ca sĩ Hương Lan (hộp băng ở hàng dưới cùng, vị trí thứ ba từ trái sang phải) cũng được thu trong dạng băng cassette bên cạnh dạng CD truyền thống.

Băng cassette lưu trữ thông tin âm thanh dưới dạng tín hiệu từ trường ghi trong hai cuộn dây băng có chiều rộng 3.8 mm nối liền nhau trong một vỏ băng bằng nhựa. Ban đầu dây băng chỉ có một loại và loại đó được tráng bằng hỗn hợp Fe2O3 (sắt (III) oxide, loại này được gọi là Type I), sau này còn có loại băng được tráng bằng Cr2O3 (chrome (III) oxide, loại này được gọi là Type II) hoặc hợp kim Fe-Cr (được gọi là Type III, loại này hiếm gặp hơn), riêng Type IV thì được tráng bởi kim loại (không phải là hợp chất oxide như Type I và II) và chất lượng âm thanh tốt hơn so với ba loại vừa nêu.

Để đọc được băng cassette, cần phải dùng các loại máy dùng để đọc những dữ liệu và phát âm thanh hoặc ghi âm lên băng cassette, được chia làm hai loại: máy cassette bỏ túi và máy cassette để bàn điều chỉnh loại băng bằng phương pháp thủ công (tape deck, loại này luôn luôn có chức năng ghi âm). Một máy cassette luôn bao gồm những bộ phận cơ khí như motor, dây cu-roa, nhông truyền động, bánh đá, mâm capstan... và một hệ thống xử lý âm thanh. Băng Cassette chạy trong máy nghe nhạc với tốc độ trung bình 47,625 mm/s và những dữ liệu ghi trên băng được chuyển đổi thành âm thanh, và trị số này được quy định sẵn bởi các nhà sản xuất máy cassette và không thể thay đổi được bởi người sử dụng. Băng cassette ban đầu (toàn bộ dây băng được cuốn lại ở lõi băng bên trái khi nhìn từ mặt A) được quay bởi máy cassette từ trái sang phải đối với mặt A và ngược lại sau khi đã chạy hết mặt A và chuyển qua mặt B.

Tất cả các băng cassette đều có cơ chế chống ghi đè dữ liệu trên băng, thể hiện bằng hai rãnh ô vuông nhựa nhỏ ở hai bên góc bên trên cuộn băng tương ứng với hai mặt băng có thể tháo ra/phá vỡ được, trong đó có chứa một loại cần cảm ứng chống lại chức năng ghi âm trên máy đọc băng (nút RECORD hoặc REC (viết tắt của chữ RECORD) với dấu chấm tròn màu đỏ trên nút bấm).

Phân loại theo thời lượng băng, có thể chia băng cassette thành các loại sau:

  • C46: là loại băng cassette có thể ghi được tổng cộng 46 phút ở cả hai mặt (23 phút mỗi mặt). Độ dày dây băng tối đa là 16 micromet. Đây là loại băng phổ biến nhất, bên cạnh băng C60, C74 và C90 vì thời lượng tối đa của cuộn băng có thể được so sánh ngang bằng với thời lượng tối đa của một chiếc đĩa than LP.
  • C60: là loại băng cassette có thể ghi được tổng cộng 60 phút ở cả hai mặt (30 phút mỗi mặt). Chiều dài cuộn băng là 90 mét và độ dày dây băng là 15 micromet.
  • C74: là loại băng cassette có thể ghi được tổng cộng 74 phút ở cả hai mặt (37 phút mỗi mặt). Chiều dài dây băng nằm trong khoảng từ 100 - 110 mét. Đây là loại băng khá phổ biến khi đĩa CD ra đời vào năm 1982 (tại Nhật Bản) và năm 1983 (tại Mỹ và các nước châu Âu) vì cả băng C74 lẫn đĩa CD đều có thời lượng tối đa ngang bằng nhau, tuy nhiên sau này khi đĩa CD có phiên bản thời lượng tối đa 80 phút và sau đó nữa là 90 và 99 phút, nó đã vượt mặt băng C74 về doanh số.
  • C90: là loại băng cassette có thể ghi được tổng cộng 90 phút ở cả hai mặt (45 phút mỗi mặt). Chiều dài cuộn băng là 129 - 135 mét và độ dày dây băng là khoảng 10 - 11 micromet.
  • C100: là loại băng cassette có thể ghi được tổng cộng 100 phút ở cả hai mặt (50 phút mỗi mặt). Loại băng này cũng có mức độ phổ biến không kém gì băng C74 và C90.
  • C120: là loại băng cassette có thể ghi được tổng cộng 120 phút ở cả hai mặt (60 phút mỗi mặt), gấp đôi băng C60. Độ dày dây băng chỉ có 6 micromet, khiến nó trở nên hiếm gặp vì dây băng dễ đứt.
  • C150: là loại băng cassette có thể ghi được tổng cộng 150 phút ở cả hai mặt (75 phút mỗi mặt). Loại này được sản xuất và phân phối độc quyền bởi hãng Maxell, thường chỉ xuất hiện ở thị trường Nhật Bản.
  • C180: là loại băng cassette có thể ghi được tổng cộng 180 phút ở cả hai mặt (90 phút mỗi mặt), gấp đôi băng C90. Độ dày dây băng thấp hơn giá trị 6 micromet của băng C120, khiến nó trở thành loại hiếm gặp nhất vì dây băng rất dễ đứt và hầu như không thể sử dụng, bảo quản được như các băng cassette bình thường.
  • Các loại khác kém phổ biến hơn/đắt tiền hơn gồm có:
    • C10, C15: thường được sử dụng để lưu trữ dữ liệu trong máy trả lời điện thoại - answering machine hoặc một số loại điện thoại để bàn có chức năng ghi âm cuộc gọi. Ngoài ra, nó còn được sử dụng để tạo các album cassette single (loại album mà chỉ có từ một đến ba, bốn ca khúc được thu vào cả hai mặt, tổng thời lượng thường không quá 10 phút).
    • C14: được phát triển bởi hãng Panasonic, chỉ có thể thu được tối đa 14 phút ở cả hai mặt (7 phút mỗi mặt), gần như tương tự với đĩa than SP và EP.
    • C20, C30 cho những việc ghi âm thời lượng ngắn.
    • C50, C54 cho những việc ghi âm thời lượng vừa phải, không phổ biến bằng băng C60.
    • C105, C110 vốn là tiền bối của băng C120 và C180.

Sau này, băng cassette còn có những biến thể khác như DCC (Digital Compact Cassette - băng cassette kỹ thuật số) và DAT (Digital Audio Tape - băng âm thanh kỹ thuật số) dùng để lưu trữ dữ liệu dạng kỹ thuật số, và chúng cũng yêu cầu các đầu đọc chuyên biệt, gần như khác hoàn toàn so với các loại băng cassette cơ học thông thường.

Một số bất lợi của máy cassette là hộp đựng băng từ cũng như hộp kết cấu chạy băng và đầu từ đều thường tiếp xúc với không khí nên dễ bị ảnh hưởng bởi bụi và độ ẩm, vì thế máy cassette cần phải được bảo dưỡng đều đặn (phần đầu từ không để bị oxy hóa bám bụi bẩn, cơ cấu các bánh xe trợ giúp không để bị kẹt hoặc bụi bẩn sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng góc tiếp xúc và tốc độ ổn định của băng từ với đầu từ). Ngoài ra băng từ nếu dùng nhiều sẽ xảy đến tình trạng máy "cắn băng" nếu bánh xe ép băng trong máy bị mòn. Được biết, nếu như để dây băng cassette tiếp xúc trực tiếp với nam châm thì cuộn băng đó sẽ không thể đọc được nữa.

Sử dụng bởi trung tâm Thúy Nga

Trung tâm Thúy Nga ban đầu (thành lập năm 1972 tại Sài Gòn) chuyên thu âm các album cassette và phân phối chúng trong nước, trong đó có một album được thực hiện với tiếng hát hoàn toàn của nữ ca sĩ Thanh Tuyền (đây chính là lý do nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông "giận" dẫn đến không cho bà cộng tác với hãng băng đĩa Continental vì cuốn băng này sau đó đã rất nổi tiếng, có thể đến mức áp đảo luôn doanh thu của hãng Continental). Về sau, khi trung tâm Thúy Nga được thành lập tại Paris, cơ sở này chuyên in sang các album băng cassette để đóng góp vào thu nhập của vợ chồng ông Tô Văn Lai và đóng góp vào vốn để thành lập một trung tâm Thúy Nga mới và thu hình chương trình Paris By Night đầu tiên. Tuy nhiên, một thời gian không lâu sau khi album đầu tiên của trung tâm Thúy Nga được ra đời vào năm 1988, băng cassette đã không còn được sử dụng hay xử lý bởi trung tâm nữa, mà thay vào đó là các album CD được phát hành.

Video

VHS

Đặc tính kỹ thuật

VHS (Video Home System) là định dạng video đặc biệt, phổ biến vào nửa cuối thế kỷ XX.

Các cuộn băng VHS có cấu tạo khá giống với các cuộn băng cassette, nhưng kích cỡ lớn hơn nhiều và cuộn dây từ của băng cũng có chiều dài dài hơn, tiết diện lớn hơn và dày hơn.

Băng VHS được đọc bởi các đầu chạy băng chuyên để đọc và ghi băng VHS. Một máy chạy băng VHS cũng có những bộ phận cơ khí như motor, dây cu-roa, nhông truyền động, bánh đá, mâm capstan,... và một hệ thống xử lý âm thanh giống như máy cassette, chỉ khác là các chi tiết trên có kích thước lớn hơn so với máy chạy băng cassette để phù hợp với hoạt động ghi, đọc dữ liệu trên dây băng có tiết diện lớn, và nó còn có hệ thống xử lý tín hiệu thông tin dạng hình ảnh để đưa chúng lên màn hình. Màn hình được sử dụng để chiếu nội dung trong băng VHS phải xử lý được các tín hiệu hình ảnh hệ NTSC, SECAM và PAL.

Cuộn băng VHS có chiều dài dây băng càng lớn thì thời lượng tối đa của nó sẽ càng tăng. Dưới đây là chiều dài dây băng và thời gian ghi của một số loại băng thông dụng:

Lưu ý: Đơn vị đo thời gian được sử dụng ở 6 cột cuối cùng là phút. Nếu vượt quá 60 phút, số phút sẽ được quy đổi sang giờ và phút.
Thị trường NTSC
Tên loại băng Chiều dài dây băng (mét) Thời gian ghi (hệ NTSC) Thời gian ghi (hệ PAL)
Chuẩn (SP) Dài (LP) Mở rộng (EP) Chuẩn (SP) Dài (LP)
T-30 (VHS-C) 63 31.5 1 giờ 3 phút 1 giờ 35 phút 45 1 giờ 30 phút
T-60 126 1 giờ 3 phút 2 giờ 6 phút 3 giờ 8 phút 1 giờ 29 phút 2 giờ 59 phút
T-90 186 1 giờ 33 phút 3 giờ 6 phút 4 giờ 39 phút 2 giờ 12 phút 4 giờ 25 phút
T-120/DF-240 247 2 giờ 4 phút 4 giờ 7 phút 6 giờ 11 phút 2 giờ 56 phút 5 giờ 52 phút
T-140 287.5 2 giờ 24 phút 4 giờ 47 phút 7 giờ 11 phút 3 giờ 24 phút 30 giây 6 giờ 49 phút 30 giây
T-150/DF-300 316.5 2 giờ 38 phút 5 giờ 16 phút 7 giờ 55 phút 3 giờ 46 phút 7 giờ 32 phút
T-160 328 2 giờ 44 phút 5 giờ 27 phút 8 giờ 11 phút 3 giờ 53 phút 7 giờ 47 phút
T-180/DF-360 369 3 giờ 4 phút 6 giờ 9 phút 9 giờ 13 phút 4 giờ 23 phút 8 giờ 46 phút
Thị trường PAL
E-30 (VHS-C) 45 22.5 45 1 giờ 8 phút 32 1 giờ 4 phút
E-60 88 44 1 giờ 28 phút 2 giờ 13 phút 1 giờ 3 phút 2 giờ 6 phút
E-90 131 1 giờ 5 phút 2 giờ 11 phút 3 giờ 16 phút 1 giờ 33 phút 3 giờ 6 phút
E-120 174 1 giờ 27 phút 2 giờ 54 phút 4 giờ 20 phút 2 giờ 4 phút 4 giờ 8 phút
E-150 216 1 giờ 49 phút 3 giờ 37 phút 5 giờ 24 phút 2 giờ 34 phút 5 giờ 8 phút
E-180 259 2 giờ 9 phút 4 giờ 18 phút 6 giờ 28 phút 3 giờ 4 phút 6 giờ 9 phút
E-195 279 2 giờ 19 phút 4 giờ 39 phút 6 giờ 58 phút 3 giờ 19 phút 6 giờ 37 phút
E-200 289 2 giờ 24 phút 4 giờ 44 phút 7 giờ 8 phút 3 giờ 24 phút 6 giờ 45 phút

Sử dụng bởi trung tâm Thúy Nga

66 chương trình Paris By Night đầu tiên (từ PBN 1 đến 66) được thu dưới dạng băng VHS. Vì vào thời điểm đó thời lượng của các chương trình thường không lớn (dưới 3.5 hoặc 4 tiếng đồng hồ) nên có thể dùng những loại băng sau (giả sử các chương trình đều thu theo hệ PAL) để thu chương trình: T-90, T-120, T-150 hoặc E-120, E-150, E-180, E-195, E-200.

DVD

Đặc tính kỹ thuật

Giống như đĩa CD, đĩa DVD cũng là một dụng cụ quang học dùng để lưu trữ dữ liệu, nhưng nó có thể chứa được nhiều dữ liệu hơn và nhiều loại dữ liệu hơn so với đĩa CD, và thường được sử dụng để lưu trữ video chất lượng trung bình-cao hoặc trò chơi điện tử (dòng máy chơi game PlayStation phát triển bởi Sony từ đời PS2 trở đi có thể đọc được đĩa DVD).

Về kích thước và cấu tạo, đĩa DVD hầu như không có đặc điểm gì khác với đĩa CD ngoại trừ các khoảng trống siêu nhỏ trên rãnh xoắn ốc ở mặt ghi của đĩa - các khoảng trống trên rãnh xoắn ốc của đĩa DVD có kích thước nhỏ hơn nhiều và mật độ nhiều hơn so với đĩa CD, và phải dùng tia laser có bước sóng 650 nm (tức tia laser có ánh sáng đỏ) để đọc nó; đĩa DVD thậm chí còn có thể có cả hai mặt đều là mặt ghi hoặc chứa hai lớp chứa dữ liệu cùng một lúc. Đĩa DVD có thể được đọc bởi các đầu đĩa chuyên dùng để đọc đĩa DVD (thông thường, các đầu đĩa DVD có thể đọc được đĩa CD) ổ đĩa DVD được lắp đặt sẵn trên các máy tính để bàn hoặc laptop.

Có thể phân loại đĩa DVD theo cấu trúc như sau:

  • Đĩa SS-SL (single side - single layer): là đĩa DVD chỉ có một mặt ghi và một lớp chứa dữ liệu. Mặt ghi của đĩa thường chỉ chứa tối đa 4.7 GB dữ liệu. Chuẩn đĩa DVD tương ứng cho loại này là DVD-1 (đường kính đĩa 8 cm) và DVD-5 (đường kính đĩa 12 cm), trong đó DVD-5 được sử dụng rộng rãi hơn và là dạng đĩa DVD thường gặp nhất.
  • Đĩa SS-DL (single side - double layer): là đĩa DVD tuy chỉ có một mặt ghi nhưng lại có hai lớp chứa dữ liệu, có dung lượng tối đa là 8.5 GB. Chuẩn đĩa DVD tương ứng cho loại này là DVD-2 (đường kính đĩa 8 cm) và DVD-9 (đường kính đĩa 12 cm), trong đó DVD-9 được sử dụng rộng rãi hơn.
  • Đĩa DS-SL (double side - single layer): là đĩa DVD có cả hai mặt đều là mặt ghi và có hai lớp nhưng lại chỉ có một lớp được sử dụng để lưu trữ dữ liệu, có dung lượng tối đa là 9.4 GB, gấp đôi đĩa SS-SL. Chuẩn đĩa DVD tương ứng cho loại này là DVD-3 (đường kính đĩa 8 cm) và DVD-10 (đường kính đĩa 12 cm).
  • Đĩa DS-DL (double side - double layer): là đĩa DVD có cả hai mặt đều là mặt ghi và có cả hai lớp đều chứa được dữ liệu, có dung lượng tối đa 17.08 GB, gấp đôi đĩa SS-DL. Chuẩn đĩa DVD tương ứng cho loại này là DVD-4 (đường kính đĩa 8 cm) và DVD-18 (đường kính đĩa 12 cm).
  • Đĩa DS-SL+DL là sự kết hợp giữa đĩa DS-SL và đĩa DS-DL, là đĩa DVD có cả hai mặt đều là mặt ghi và có ba lớp chứa dữ liệu (một mặt ghi có thể ghi được cho một lớp và mặt ghi còn lại ghi dữ liệu cho hai lớp còn lại), có dung lượng tối đa 13.24 GB. Chuẩn đĩa DVD tương ứng cho loại này là DVD-14 với đường kính đĩa 12 cm. Dạng đĩa này hiếm gặp nhất trong số tất cả các loại đĩa DVD vừa nêu.

Có thể phân loại đĩa DVD theo loại dữ liệu được lưu trữ như sau:

  • DVD-Audio: đĩa DVD chuyên dùng để lưu trữ âm thanh. Với loại đĩa này, người ta có thể lưu trữ tới hơn 100 hoặc 150 bài hát theo định dạng MP3.
  • DVD-Video: đĩa DVD chuyên dùng để lưu trữ video và hình ảnh.

Khi đĩa DVD được sử dụng để lưu trữ video, các thư mục chứa video có tên bắt đầu bằng "VTS_..." trong thư mục "VIDEO_TS" của đĩa được gọi là title (tiếng Anh: nhan đề), và các file video chứa trong các thư mục ấy có thể được chia thành các chapter (tiếng Anh: chương). Thông tin quan trọng liên quan đến nội dung của các video trong đĩa được lưu trữ trong thư mục VMG. Thông thường, một đĩa DVD có thể chứa tối đa 99 title, và một title như thế có thể được chia ra thành 999 chương, và đĩa DVD có thể được ví như một tủ/kệ sách mà các cuốn sách trong chiếc tủ/kệ ấy được chia thành các chương.

Ngoài ra, đĩa DVD còn hỗ trợ các tính năng sau:

  • Tạo các menu để dễ dàng di chuyển giữa các title hoặc các chương trong đĩa; menu sẽ hiển thị một khi việc đọc đĩa DVD hoàn tất, và người sử dụng sẽ sử dụng các phím mũi tên trên điều khiển từ xa của đầu đĩa để lựa chọn trên menu, hoặc người dùng có thể đơn thuần nhấn nút PLAY trên đầu đĩa để bắt đầu chạy nội dung có trong đĩa. Đặc điểm nổi bật của menu này là chừng nào người sử dụng vẫn chưa chọn nội dung hiển thị trên màn hình thì màn hình menu vẫn tiếp tục tồn tại và nhạc nền lồng với menu đó (nếu có) và hình động trên menu sẽ lặp lại từ đầu sau một khoảng thời gian nhất định được cài đặt sẵn bởi người làm đĩa (lúc này, menu được coi là title 0 và chapter 0 bởi đầu đĩa).
  • Tạo các phụ đề thuyết minh cho nội dung video. Mỗi đĩa DVD có thể chứa tối đa 32 phụ đề khác nhau. Phụ đề thường được lưu trữ dưới dạng file hình ảnh bitmap nên có thể chứa đựng thông điệp được dịch sang các thứ tiếng khác nhau nhằm phục vụ cho các khán giả ở những quốc gia sử dụng ngôn ngữ khác nhau và đồng thời giúp người khiếm thính hiểu được nội dung của đĩa.
  • Tạo các góc nhìn (angle) khác nhau ở mỗi phân cảnh (scene) trong nội dung video đó.

Sử dụng bởi trung tâm Thúy Nga

Từ Paris By Night 67 trở đi, trung tâm Thúy Nga bắt đầu sử dụng đĩa DVD để thu hình các chương trình PBN và các chương trình đặc biệt vì chất lượng hình ảnh trong đĩa DVD cao hơn so với băng VHS. Vì giá thành rẻ nên trung tâm Thúy Nga chỉ sử dụng chuẩn đĩa DVD-5 (sau này còn có DVD-9) để lưu trữ video chương trình. Từ sau PBN 104, trung tâm Thúy Nga bắt đầu phát hành đĩa Blu-ray song song với đĩa DVD vì đĩa Blu-ray cho phép lưu trữ tới 25 GB dữ liệu, thậm chí có thể lưu trữ toàn bộ nội dung chương trình vào một đĩa. Sau này, hầu hết các chương trình Paris By Night đều có 2 hoặc 3 đĩa DVD cùng đóng gói trong một vỏ, tương ứng với thời lượng 5-6 tiếng đồng hồ của các chương trình.

Mục lục chương trình được in ở bìa sau, và số chương trong mỗi đĩa thường tương ứng với số chương hiển thị trong title đầu tiên khi bật chức năng hiển thị OSD (on-screen display) trên màn hình. Phần BONUS ghi trên đĩa thường được đặt trong một title riêng biệt, thường là title thứ hai của đĩa, trong đó mỗi đề mục trong phần BONUS tương ứng với một chương trong title này. Tất cả các đĩa DVD được sản xuất bởi trung tâm đều có menu để chọn chương/đề mục tương ứng trên bìa đĩa.

Ngoài ra, trong các đĩa DVD Paris By Night còn có thêm quảng cáo dành cho các sản phẩm nhất định mà trung tâm Thúy Nga là đại diện phân phối hoặc độc quyền phân phối, và nó được biểu thị bằng chữ ADS trên màn hình menu của đĩa.

Blu-ray

Đặc tính kỹ thuật

Blu-ray là hậu duệ sau này của đĩa DVD, mặc dù kích cỡ không thay đổi (đường kính đĩa là 12 cm) nhưng các khoảng trống siêu nhỏ trên rãnh xoắn ốc ở mặt ghi của đĩa có mật độ dày hơn, kích thước nhỏ hơn, cho phép lưu trữ nhiều dữ liệu hơn vào đĩa (ví dụ: hình ảnh 3D hoặc các trò chơi điện tử có dung lượng lớn và yêu cầu đồ họa cao như Grand Theft Auto V, file cài đặt ban đầu của nó đã lên tới 59 GB) và thu hình ảnh với chất lượng cao (chuẩn HD và Ultra HD 4K với tỉ lệ màn hình 16:9, thông thường các video theo quy chuẩn trên sở hữu dung lượng lớn, đĩa DVD theo chuẩn DVD-5 hoặc DVD-9 đôi khi không thể chứa quá 20-30 phút những video có chất lượng như thế này).

Để đọc và ghi được đĩa Blu-ray, cần phải có một ổ đĩa có mắt đọc đĩa chiếu được tia laser bước sóng 405 nm (ánh sáng tím), và các đầu đĩa/ổ đĩa có khả năng đọc được đĩa Blu-ray thường sẽ đọc được đĩa DVD và CD (trường hợp ngoại lệ là máy chơi game PlayStation 4 không thể đọc được đĩa CD dù có khả năng đọc được DVD và Blu-ray). Máy chơi game PlayStation 3 của hãng Sony và Xbox One của hãng Microsoft là các máy chơi game đầu tiên trên thế giới hỗ trợ đĩa Blu-ray.

Khác với đĩa DVD có biến thể mà cả hai mặt đều là mặt ghi, đĩa Blu-ray chỉ có một mặt ghi duy nhất, nhưng lại có thể chứa được 3 hoặc 4 lớp dữ liệu mà đĩa DVD thường không thể chứa quá 2 (nếu như không tính trường hợp đĩa DVD loại SS-SL+DL). Điều này cũng có nghĩa là đĩa Blu-ray có thể chứa được tới 100 hoặc 128 GB dữ liệu. Các loại đĩa (phân theo số lớp dữ liệu trên đĩa) bao gồm:

  • Đĩa thường 1 lớp: chứa được 25 GB dữ liệu.
  • Đĩa thường 2 lớp: chứa được 50 GB dữ liệu.
  • Đĩa BDXL 3 lớp: chứa được 100 GB dữ liệu.
  • Đĩa BDXL 4 lớp: chứa được 128 GB dữ liệu.

Ngoài ra, các loại đĩa (phân theo khả năng ghi) bao gồm:

  • BD-R: tương tự như CD-R và DVD-R, nó chỉ có thể được ghi một lần trên đó.
  • BD-RE (Blu-ray Disc - Recordable & Erasable): loại đĩa Blu-ray có thể được ghi và xóa dữ liệu trên đó nhiều lần.
  • BDXL: như đã nói ở trên, loại đĩa Blu-ray này có ba hoặc bốn lớp chứa dữ liệu, tương ứng với khả năng chứa tới 100 và 128 GB dữ liệu.
  • IH-BD (Intra Hybrid Blu-ray): loại đĩa Blu-ray có hai lớp, một lớp có thể ghi được nhiều lần (BD-RE) và lớp còn lại chỉ có thể ghi được một lần duy nhất (BD-ROM). Vì chỉ có hai lớp nên dung lượng của loại đĩa này thường không đổi 50 GB.

Đĩa Blu-ray thường được đựng trong một chiếc hộp nhựa dẻo xuyên thấu màu xanh dương có kích thước nhỏ hơn hộp đựng đĩa DVD và có biểu tượng đĩa Blu-ray nằm ở trên cùng. Hộp đựng đĩa có thể sẽ có các màu tương ứng với các thể loại như sau:

  • Đỏ nếu như đĩa đó là đĩa trò chơi điện tử dành cho máy PlayStation 3 (các trò chơi được xếp vào danh sách "PS3 Greatest Hits Games").
  • Không màu/trong suốt nếu như đĩa đó là đĩa trò chơi điện tử thông thường dành cho máy PlayStation 3.
  • Màu xanh dương đậm nếu như đĩa đó là đĩa trò chơi điện tử dành cho máy PlayStation 4.
  • Màu xanh lá cây nếu như đĩa đó là đĩa trò chơi điện tử dành cho máy Xbox One.
  • Màu đen nếu như đĩa đó là đĩa phim chất lượng Ultra HD.
DtQjHMbJ o

Ảnh chụp màn hình menu chọn chương của đĩa Blu-ray Paris By Night 130 - In Singapore - "Glamour". Độ phân giải của ảnh chụp màn hình là 1920x1080, tương đương với tỉ lệ màn hình 16:9 được sử dụng rộng rãi trong các video lưu trữ trong đĩa Blu-ray.

Được biết, vì Blu-ray là hậu duệ của đĩa DVD nên các tính năng có sẵn trên đĩa DVD cũng sẽ xuất hiện trên đĩa Blu-ray (tính năng tạo menu, chia chương, góc nhìn,...) một khi đĩa Blu-ray được sử dụng để ghi và lưu trữ video.

Sử dụng bởi trung tâm Thúy Nga

Từ Paris By Night 104 trở đi, trung tâm Thúy Nga bắt đầu phát hành đĩa Blu-ray song song với đĩa DVD của các chương trình PBN. Đĩa Blu-ray cho phép thu hình toàn bộ chương trình vào cùng một đĩa nên khá tiện dụng (ví dụ: chương trình Paris By Night 130 - In Singapore - "Glamour" có thời lượng hơn 6 giờ và kích cỡ khoảng 19 GB, phù hợp với đĩa Blu-ray thường một lớp ghi). Hộp đựng đĩa Blu-ray do trung tâm phát hành có màu xanh dương sáng bao quanh bìa đĩa.

Tương tự như DVD, trung tâm Thúy Nga cũng chia chương và tạo menu chọn chương trong mỗi đĩa Blu-ray.

Thông tin cơ sở

Community content is available under CC-BY-SA unless otherwise noted.